1C: DOANH NGHIỆP

Điểm mới trong phiên bản 8.3.1

Thực thi cấu trúc mới cân bằng mức tải của liên cung Server:

  • người quản trị xác định các thành phần máy tính (Server làm việc) mà trên đó xếp đặt liên cung,
  • Có thể xác định “yêu cầu” đối với liên cung Server: công cụ và kết nối nào với cơ sở thông tin phải làm việc trên từng Server làm việc,
  • Bộ quản lý liên cung và quy trình làm việc được tự động chạy dựa vào những “yêu cầu” đã ấn định,
  • “yêu cầu” đối với server làm việc có thể được thiết lập một cách trực tác, từ bảng điều khiển quản trị liên cung hoặc là từ ngôn ngữ hệ thống.

Có thể chỉ ra mức độ ổn định của liên cung như là số lượng Server làm việc mà có thể cùng một thời điểm bị lỗi và điều này không làm ảnh hưởng đến công việc của người sử dụng. Công cụ dự phòng được chạy tự động với số lượng cần thiết để đảm bảo mức độ ổn định đã chỉ ra. Ở chế độ thiết thực có thực hiện việc tái tạo công cụ hiện thời cho dự phòng.

Mức tải được phân bổ tự động giữa các Server làm việc trên cơ sở phân tích hiệu suất. Có thể điều chỉnh thủ công mức tải đối với Server làm việc riêng bằng cách hạn chế số lượng cơ sở thông tin và số lượng kết nối được phục vụ bởi một tiến trình làm việc trên Server cụ thể.

Sử dụng khả năng hạn chế dung lượng bộ nhớ được tiêu thụ bởi các tiến trình làm việc. Có thể hạn chế tối đa dung lượng bộ nhớ chiếm giữ bởi tất cả các tiến trình làm việc, cũng như hạn chế số lượng bộ nhớ mà tiêu thụ cho một lần gọi ra tiến trình làm việc. Điều này cho phép tăng tính ổn định của liên cung Server đối với những thao tác bất cẩn của người sử dụng.

Trong thành phần liên cung có thực thi hai công cụ mới:

  • Công cụ cấp phép sử dụng. Cấp giấy phép sử dụng phần mềm để khởi động ứng dụng Client và để sử  dụng Server 1C:DOANH NGHIỆP. Sự tồn tại của công cụ riêng cấp phép sử dụng giúp dễ dàng thiết kế cấu hình Server làm việc trong liên cung hoặc mở chi tiết liên cung trên Server ảo có thay đổi động các tham số.
  • Công cụ quản lý ngoài phiên làm việc. Công cụ này cho phép hạn chế số lượng người sử dụng được kết nối tới cơ sở thông tin này hoặc cơ sở thông tin khác. Công cụ này thông báo cho hệ thống ngoài về lúc bắt đầu và kết thúc phiên làm việc, đồng thời trả lời cho phép hoặc cấm khởi động phiên làm việc. Tương tác với hệ thống ngoài được thực hiện thông qua Web-service, có sẵn bộ phương thức cụ thể.

Khi người sử dụng làm việc trong mạng cục bộ, nền tảng có thể tự động cập nhật phiên bản ứng dụng Client ở chỗ người sử dụng, nếu phiên bản được cài đặt trên Server đã bị thay đổi. Hiện nay, có thể cài đặt tự động như vậy đối với Client mỏng của phiên bản cần thiết và trong trường hợp khi mà người sử dụng được kết nối với liên cung Server qua Internet.

Nếu phát hiện thấy sự không tương ứng phiên bản ứng dụng Client và Server thì nền tảng có thể tải về và cài đặt phiên bản cần thiết của Client mỏng theo HTTP-connection hoặc bằng Web-service. Địa chỉ mà từ đó cần nhận được bản đóng gói Client mỏng, có thể chuyển giao bằng Server hoặc chỉ ra trong các tùy chỉnh phần Client 1C:DOANH NGHIỆP.

Thực thi hỗ trợ kết nối SSL được bảo vệ và chứng thư trong tất cả các cơ chế của nền tảng sử dụng Internet:

  • Client mỏng (đối với Windows và đối với Linux),
  • Web-service 1C:DOANH NGHIỆP,
  • Đối tượng ngôn ngữ hệ thống thực thi công việc theo giao thức FTP và HTTP,
  • Email.

Có thể sử dụng chứng thư từ kho chứa chuẩn của hệ điều hành hoặc từ tệp. Có thể tùy chỉnh sử dụng chứng thư thông qua dòng lệnh hoặc trong hộp thoại tham số khởi động cơ sở thông tin.

Trong các trình duyệt Google Chrome và Safari có hỗ trợ cấu phần ngoài và mở rộng để làm việc với tệp và để làm việc với mã hóa.

Trong quá trình chạy giải pháp ứng dụng, thông thường, có đưa vào đó những thay đổi. Những thay đổi này có thể ảnh hưởng đến cấu trúc cơ sở dữ liệu. Trong trường hợp như vậy, khi cập nhật cấu hình có thực hiện việc tái cấu trúc cơ sở thông tin.

Việc tái cấu trúc được thực hiện ở chế độ truy cập đơn, nghĩa là, vào thời gian này, người sử dụng không thể làm việc với chương trình. Với các giải pháp ứng dụng phức tạp, có nhiều chức năng và dung lượng cơ sở thông tin lớn thì việc tái cấu trúc có thể mất nhiều thời gian.

Trước đây, chế độ truy cập đơn đòi hỏi đối với toàn bộ thời gian thực hiện tái cấu trúc và quá trình này phải được thực hiện liên tục. Nếu bị gián đoạn thì ở lần tiếp theo phải bắt đầu lại.

Hiện nay, phần lớn những thay đổi trong quá trình tái cấu trúc được thực hiện ở chế độ nền mà hoàn toàn không làm gián đoạn công việc của người sử dụng. Truy cập đơn vẫn cần thiết nhưng chỉ được sử dụng ở giai đoạn cuối, ngắn trong quá trình tái cấu trúc.

Tái cấu trúc nền chỉ làm việc ở phương án Client-server. Quá trình này có thể được khởi động trực tác từ chế độ Bộ thiết kế, từ dòng lệnh khởi động bộ thiết kế hoặc từ ngôn ngữ hệ thống. Quá trình tái cấu trúc nền có thể tạm thời dừng lại, sau đó tiếp tục từ “chỗ” vừa tạm dừng.

Trước đây, công việc của người sử dụng trên hệ điều hành Linux chỉ có thể thực hiện bằng Web-client cho một trong những trình duyệt web được hỗ trợ trên Linux.

Hiện nay, đối với hệ điều hành Linux đã tạo ứng dụng Client tương tự như đối với hệ điều hành Windows:

  • Client mỏng đảm bảo công việc của người sử dụng ở chế độ ứng dụng được điều khiển.
  • Client dày đảm bảo công việc:
    • ở chế độ thường hoặc chế độ được điều khiển – đối với người sử dụng hệ thống,
    • ở chế độ Bộ thiết kế – đối với việc quản trị cơ sở thông tin và để thay đổi cấu hình.

Cả hai ứng dụng Client này đều hỗ trợ phương án làm việc File-server và Client-server. Chúng được thực hiện đối với kiến trúc x86 và x86-64.

Nhờ đó mà trên hệ điều hành Linux bây giờ có thể làm việc không chỉ người sử dụng ứng dụng 1C:DOANH NGHIỆP mà cả những nhà phát triển ứng dụng này, cũng như người quản trị cơ sở thông tin.

Trước đây, để quản trị liên cung Server 1C:DOANH NGHIỆP thì trong thành phần của hệ thống nhất định phải có một máy tính chạy hệ điều hành Windows. Trên máy tính này đã chạy các công cụ tiện ích mà nhờ đó có thể thực hiện tất cả các thao tác quản trị với liên cung.

Hiện nay, việc quản trị liên cung có thể thực hiện từ máy tính bất kỳ sử dụng hệ điều hành Windows, cũng như Linux. Để thực hiện việc này trong chương trình 1C:DOANH NGHIỆP có thực thi hai công cụ:

  •  Server quản trị,
  •  Các công cụ tiện ích dòng lệnh.

Server quản trị là ứng dụng nền tảng Cross và dùng để truyền lệnh được điều khiển cho một liên cung Server 1C:DOANH NGHIỆP. Nó có thể chạy như một ứng dụng điều khiển, như là công cụ của hệ điều hành Windows hoặc như là daemon của hệ điều hành Linux.

Các công cụ tiện ích của dòng lệnh được dùng để đưa ra lệnh cho Server quản trị và để hiển thị thông tin nhận được từ đó. Nó cũng là ứng dụng nền tảng Cross. Các công cụ tiện ích này hỗ trợ toàn bộ các lệnh cần thiết cho việc quản trị liên cung Server.

Có thể kết xuất cấu hình bất kỳ ra thư mục đã chọn dưới dạng tập hợp tệp. Các đối tượng cấu hình được kết xuất ra tập hợp tệp XML. Mô-đun chương trình được kết xuất ra tệp văn bản thuần. Trợ giúp được kết xuất ra tệp HTML.

Bằng cách sử dụng định dạng XML có thể thực hiện việc xử lý và phân tích cấu hình bằng công cụ của chương trình và thủ công.

Có thể kết xuất/kết nhập cấu hình hoặc trực tác trong bộ thiết kế, hoặc là từ dòng lệnh khởi động bộ thiết kế

  • Có thể đưa nguồn dữ liệu ngoài vào bảng tạm thời để sử dụng trong các truy vấn phức tạp,
  • Khi kết nối với nguồn dữ liệu ngoài thì có thể sử dụng đăng nhập hệ điều hành,
  • Hoàn thiện làm việc với các nguồn dữ liệu ngoài mà không phải là cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server, PostgreSQL, IBM DB2 hoặc Oracle Database.
  • Có tham chiếu tới các đối tượng bảng nguồn dữ liệu ngoài tham gia vào việc tìm kiếm tham chiếu cùng với tham chiếu tới các đối tượng của cơ sở thông tin 1C:DOANH NGHIỆP,
  • Có hỗ trợ làm việc với nguồn dữ liệu ngoài có chứa dữ liệu theo phân nhánh,
  • Thực thi khả năng tái xác định biểu mẫu được mở ra để xem dữ liệu nguồn ngoài.
  • Nguồn dữ liệu ngoài có thể tham gia vào việc chia tách dữ liệu và đưa vào thành phần đường chia tách,
  • Trong các biểu mẫu có thể sử dụng tham chiếu tới bảng bất kỳ của nguồn dữ liệu ngoài
  • Soạn tùy chỉnh báo cáo đơn giản và dễ hiểu hơn. Bây giờ, tùy chỉnh báo cáo được soạn trong các trường riêng của báo cáo, chứ không phải trong một bảng chung như trước đây,
  • chức năng thống kê được bổ sung thêm vào ngôn ngữ biểu thức của hệ thống dàn dựng dữ liệu cho phép tính toán sai lệch chuẩn, phương sai, hiệp biến, tương quan và hồi quy. Cũng như thực thi một loạt hàm đại số và lượng giác.
  • Trong hệ thống dàn dựng dữ liệu đã thực thi đưa ra báo cáo các trường từ tập hợp dữ liệu mà có rằng buộc với tập hợp dữ liệu này, tuy nhiên không có rằng buộc với nhau,
  • Trong các biểu đồ đã thực thi chế độ san bằng, hợp nhất các phần tử sê-ri, cũng như dạng biểu đồ mới: Phễu và phễu thể tích,
  • chuẩn hóa công việc tùy chọn chức năng trong các biểu mẫu được điều khiển và trong hệ thống dàn dựng dữ liệu.
  • Hoàn thiện dẫn hướng và soạn trong bảng biểu mẫu,
  • Có thể chỉ ra cách trình bày tùy ý đối với các tham chiếu tới đối tượng bất kỳ (1C:DOANH NGHIỆP và nguồn dữ liệu ngoài): danh mục, chứng từ…
  • Thực thi tham chiếu dẫn hướng tới các lệnh trong giao diện lệnh toàn cục và tới danh sách. Chuyển theo tham chiếu tới lệnh thì thực hiện lệnh này, còn chuyển theo tham chiếu tới danh sách thì mở biểu mẫu danh sách,
  • Thực thi kiểu dữ liệu mới – Dòng Định dạng, trong đó có thể chỉ ra màu sắc nội dung/nền, phông chữ và đường dẫn. dòng định dạng có thể là mục tin của biểu mẫu và có thể được hiển thị trong trường nhãn,
  • Hoàn thiện thiết kế danh sách sổ xuống dành cho hộp nhập liệu,
  • Hoàn thiện thiết kế chỉ dẫn đối với phần tử biểu mẫu. Có thể chỉ ra chỉ dẫn:
    • hiển thị trong phần tử khi chỉ dẫn chưa được điền.
    • nổi lên khi đặt con trỏ chuột.
    • luôn được hiển thị bên cạnh phần tử.
    • được hiển thị khi nhấn nút lệnh riêng.
  • Nhóm được xếp đặt trong biểu mẫu, có thể tách ra bằng các màu nền khác nhau,
  • Trong Web-client tăng đáng kể khả năng soạn văn bản dạng bảng.
  • Hoàn thiện định dạng văn bản. Bây giờ từ ngôn ngữ hệ thống có thể hoàn toàn quản lý nội dung văn bản và tạo văn bản có mức độ phức tạp bất kỳ,
  • Bằng các công cụ của nền tảng có hỗ trợ in hai mặt và tùy chỉnh trong ngôn ngữ hệ thống,
  • Trong ngôn ngữ hệ thống đã thực thi khả năng kết nhập và xử lý trước tệp biểu đồ có chữ ký và con dấu. Điều này cho phép đơn giản hóa việc tạo và cải thiện hình dạng bên ngoài văn bản được in,
  • Trong bộ thiết kế, trong bộ soạn biểu mẫu, có thể tùy chỉnh trực tác nội dung biểu đồ, dendrogram, biểu đồ Gantt, văn bản dạng bảng, sơ đồ hình học và sơ đồ địa lý, là các mục tin của biểu mẫu; trong nhiều trường hợp điều này cho phép từ bỏ việc sử dụng khuôn in hoặc điền những mục tin này,
  • Báo cáo so sánh vai trò được thực hiện đơn giản hơn và dễ đọc,
  • Quá trình đăng tải cơ sở thông tin lên Web–server tiện lợi và minh bạch hơn. Hiện nay, ngay trong bộ thiết kế có thể xem và thay đổi tất cả các tham số đăng tải,
  • Trong nhật ký sự kiện ghi nhận các sự kiện có liên quan với đăng nhập bằng công cụ OpenID.
  • Thực thi hỗ trợ công việc của 1C:DOANH NGHIỆP với Microsoft SQL Server 2012,
  • Ngừng hỗ trợ làm việc với các trình duyệt Windows Internet Explorer 6 và Mozilla Firefox 3.0 và 3.5.
  • Tăng tốc độ xử lý của Web-client,
  • Tối ưu hóa làm việc với hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server:
    • giảm số lượng phong tỏa khi có nhiều người sử dụng làm việc cùng một thời điểm bằng cách sử dụng các mức độ cô lập giao tác READ_COMMITED_SNAPSHOT,
    • tăng tốc độ làm việc với bảng tạm thời,
    • tăng tốc độ ghi và đọc dữ liệu,
    • tăng tốc độ kết nhập cơ sở thông tin từ tệp,
    • tăng tốc độ tái cấu trúc cơ sở thông tin,
  • Tối ưu hóa công việc với hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL:
    • tăng tốc độ cập nhấp phần tổng kết,
    • thực thi khả năng xếp đặt chỉ mục và dữ liệu trên các phương tiện lưu trữ khác nhau,
    • tăng tốc độ cập nhật cấu hình cơ sở thông tin,
    • tối ưu hóa làm việc với hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu IBM BD2:
    • tăng tốc độ thực hiện nhiều giao dịch,
    • tăng tính song hành khi có số lượng lớn người sử dụng làm việc,
  • Tối ưu hóa làm việc với hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu Oracle Database:
    • tăng tốc độ làm việc với phần tổng kết,
    • tăng tốc độ làm việc khi sử dụng hạn chế phức tạp ở mức độ bản ghi và trường cơ sở dữ liệu,
    • tăng tốc độ cập nhập cấu hình cơ sở thông tin,
  • Tăng tính quy mô và hiệu suất của liên cung Server khi làm việc với các kiểu dữ liệu có tham chiếu,
  • Tối ưu hóa thực hiện truy vấn sử dụng cấu trúc TRONG PHÂN NHÁNH,
  • Tối ưu hóa thực hiện truy vấn phức tạp tới biểu ghi kế toán,
  • Tăng tốc độ đọc từ biểu ghi và ghi vào biểu ghi kế toán ở nhiều chế độ,
  • Tối ưu hóa thực hiện các truy vấn sử dụng giới từ TOTAL và trả lại số lượng lớn các bản ghi,
  • Trong biểu ghi thông tin lưu trữ tổng kết, nhờ đó tăng tốc độ nhận mặt cắt đầu tiên và mặt cắt cuối cùng của biểu ghi thông tin,
  • Đối với nhiều cơ chế của nền tảng thì tối ưu hóa làm việc với bộ nhớ,
  • Tăng tốc độ mở biểu mẫu nhờ tối ưu hóa đọc dữ liệu bằng danh sách động,
  • Tối ưu hóa làm việc với phần tổng kết biểu ghi ở chế độ chia tách dữ liệu.

Để quản lý chuyển đổi lên phiên bản 8.3.1 và bảo đảm khả năng quay trở lại phiên bản trước của nền tảng đã thực thi chế độ tương thích từ phiên bản 8.2.16.

Khi cấu hình đã tạo dựng ở phiên bản trước được mở ra bằng phiên bản 8.3.1 thì nó tự động được thiết lập chế độ tương thích với phiên bản 8.2.16. Điều này đảm bảo phần lớn các cơ chế của nền tảng mà những thay đổi căn bản đã đưa vào đó sẽ vẫn làm việc như trước đây, còn cấu trúc dữ liệu được tạo dựng bằng nền tảng sẽ không thay đổi.

Để sử dụng các tính năng mới của nền tảng mới 8.3.1 cần chuyển chế độ tương thích cấu hình sang giá trị “Không sử dụng” và thực hiện tái cấu trúc cơ sở thông tin.

Nếu sau đó muốn quay trở lại làm việc trên phiên bản trước của nền tảng thì cần thiết lập chế độ tương thích dưới dạng “Phiên bản 8.2.16” và thực hiện lại việc tái cấu trúc.

Danh sách đầy đủ những thay đổi có thể xem trong tệp V8Update.htm.

Khi cài đặt tiêu chuẩn nền tảng Windows thì tệp này nằm trong thư mục: C:\Program Files\1cv8\8.3.1.531\docs\ru\

Khi cài đặt tiêu chuẩn nền tảng Linux thì tệp này nằm trong thư mục: /opt/1c/v8.3/i386/docs/ru

TS.Trần Thắng