1C: DOANH NGHIỆP

Điểm mới trong phiên bản 8.2

Phiên bản 1С:DOANH NGHIỆP 8.2 là sự thay đổi có tính nguyên tắc về kiến trúc nền tảng phiên bản 8, và đây cũng là thay đổi lớn nhất từ khi phát hành phiên bản.

1С:DOANH NGHIỆP 8.2 thay đổi toàn bộ bề mặt làm việc với giao diện. Ở đây bao gồm giao diện lệnh, các biểu mẫu và cả hệ thống cửa sổ. Trong đó, không chỉ thay đổi về mô hình bộ xử lý giao diện người sử dụng trong cấu hình mà còn có thêm kiến trúc mới về phân chia tính năng giữa ứng dụng Client và Server.

Trong phiên bản 8.2 có những sửa đổi mang tính nguyên tắc về cơ chế cài đặt, khởi động và cập nhật nền tảng. Đã có những nỗ lực thực sự nhằm nâng cao tính thuận tiện khi triển khai hệ thống trong các tổ chức lớn.

Ngoài ra, còn có sự phát triển mạnh của Cluster Server 1C:DOANH NGHIỆP (cụm Server) theo nhiều hướng: khả năng mở rộng, tính bền vững và phân tải động cho nút tải.

Client mỏng và Web-client là hai ứng dụng Client mới. Ngoài cách truy cập File-server thông thường và kết nối đến Server theo mạng cục bộ, hai ứng dụng này cho phép kết nối đến cơ sở thông tin theo giao thức mạng HTTP thông qua Web-server được thiết lập đặc biệt. Client mỏng và Web-client đảm bảo cho công việc của người sử dụng trong chế độ mới: chế độ ứng dụng được điều khiển.

Client mỏng được cài đặt trong máy tính người sử dụng. Khi đó, dung lượng bản đóng gói của Client mỏng nhỏ hơn nhiều so với ứng dụng Client cũ, do đó, nó sử dụng tài nguyên phần cứng ít hơn. Client mỏng được coi như là thành phần của bản đóng gói đầy đủ của nền tảng cũng như là bản đóng gói riêng.

Web-client không cần cài đặt trước. Nó được thực hiện không phải trong môi trường của hệ điều hành mà trong trình duyệt Internet (Microsoft Internet Explorer hoặc Mozilla Firefox). Người sử dụng có thể khởi động trình duyệt của mình, nhập địa chỉ Web-server mà trên đó có đăng tải cơ sở thông tin, còn Web-client sẽ “tự tìm” đến Web-server trong máy tính và bắt đầu làm việc.

Client mỏng và Web-client cho phép làm việc với cơ sở thông tin qua Internet trong thời gian thực. Kết nối được thực hiện thông qua Web-server có cấu hình đặc biệt (Apache hoặc IIS).

Nếu kết nối này được thực hiện thông qua Internet-conection tốc độ chậm (ví dụ, GPRS) thì các ứng dụng Client có thể được khởi động trong chế độ đặc biệt: chế độ kết nối tốc độ chậm. Điều này làm giảm tải đường dẫn do số lượng kết nối đến Server ít đi: nhiều truy vấn đến máy chủ được kết hợp thành một gói để thu thập dữ liệu từ trước… Kết quả là ngay cả trong các kênh truyền tốc độ chậm, nền tảng vẫn đảm bảo được tốc độ làm việc của người sử dụng

Trong chế độ ứng dụng được điều khiển, giao diện không phải là “được vẽ ra“, mà “được mô tả“. Người lập trình chỉ xác định sơ đồ chung của giao diện lệnh và biểu mẫu. Nền tảng sử dụng các mô tả để xây dựng giao diện cho một người sử dụng cụ thể và có tính đến các yếu tố khác nhau: quyền của người sử dụng, đặc điểm triển khai cụ thể, tùy chỉnh do người sử dụng tự thực hiện.

Ứng dụng được điều khiển làm đơn giản hóa một cách đáng kể việc triển khai các giải pháp ứng dụng. Bây giờ không cần chỉnh sửa, mà chỉ cần tùy chỉnh giải pháp theo đặc điểm của công ty, lúc đó, không thay đổi chính giải pháp ứng dụng. Tùy chọn chức năng là khả năng mới, được tạo ra khi tạo dựng, cho phép khi triển khai bật/tắt các phần chức năng cần thiết của giải pháp ứng dụng phức tạp.

Trong phiên bản mới của nền tảng có tính bền vững của cụm Server “1C:DOANH NGHIỆP”, thành phần chính đảm bảo sự tương tác giữa người sử dụng và Hệ thống quản trị CSDL.

Bây giờ, nếu thoát khỏi hệ thống hoặc tắt máy tính bất kỳ nằm trong thành phần cụm Server thì cũng không làm ngắt quãng công việc của người sử dụng với cơ sở thông tin. Điều này có thể thực hiện được bằng cách lưu trữ nóng chính cụm Server và lưu trữ tiến trình làm việc trong cụm Server.

Tính ổn định của hệ thống đối với mặt của kênh liên lạc giữa người sử dụng và cụm Server tăng lên đáng kể. Bây giờ, trong hầu hết các trường hợp sau khi khôi phục kết nối, người sử dụng có thể tiếp tục công việc từ “chỗ” đã bị ngắt quãng. Khi đó, không cần kết nối lại với cơ sở thông tin nữa. Điều này có thể thực hiện được là do cụm Server đã “ghi nhớ” người sử dụng đã được kết nối và tình trạng các thao tác mà họ đang thực hiện. Trong trường hợp mất kết nối cá nhân, cụm Server sẽ chờ để khôi phục lại kết nối với người sử dụng này.

Trong cụm Server có thực hiện cân bằng động mức tải. Khối lượng công việc dần dần được phân tích trong quá trình làm việc và nếu cần thiết, Client tự động chuyển đến tiến trình làm việc với năng suất cao hơn.

Hỗ trợ thêm một hệ thống quản trị CSDL là Oracle Database. Việc phát triển hệ thống được thực hiện với sự hợp tác của các chuyên gia của tập đoàn Oracle. Bây giờ nền tảng “1C:DOANH NGHIỆP 8” có hỗ trợ công việc của 5 hệ thống quản trị CSDL:

  • File-server,
  • Microsoft SQL Server,
  • PostgreSQL,
  • IBM DB2,
  • Oracle Database.

Việc sử dụng cơ chế tổng kết trung gian cho phép rút ngắn đáng kể thời gian lập báo cáo. Điều này đặc biệt quan trọng đối với cơ sở thông tin lớn chứa hàng trăm nghìn và hàng triệu các bản ghi trong biểu ghi.

Tổng kết trung gian được sử dụng đối với các biểu ghi tích lũy dạng phát sinh. Đối với biểu ghi bất kỳ, có thể tạo nhiều kho chứa đặc biệt gồm dữ liệu đã tổng kết của biểu ghi theo các mặt cắt khác nhau, thuận tiện để lập báo cáo trong cơ sở thông tin này. Hệ thống tự động đánh giá cường độ làm việc của người sử dụng với mặt cắt thông tin này hay mặt cắt thông tin khác và trên cơ sở thống kê đã tích lũy, lựa chọn thành phần tối ưu hóa việc tổng kết trung gian.

Việc sử dụng tổng kết trung gian cho phép các chuyên gia phân tích và nhà quản lý phân tích thông tin có được, khi di chuyển giữa các mặt cắt khác nhau, nhìn thấy được với thời gian phản hồi ngắn mà hệ thống đáp ứng được. Đồng thời, hệ thống, một mặt, sử dụng dữ liệu tổng kết trung gian đã tích lũy với thời gian nhanh nhất, mặt khác, luôn đảm bảo tính thiết thực của dữ liệu trong các báo cáo nhận được.

Đối với mỗi báo cáo trong cấu hình, người lập trình hoặc chuyên gia tư vấn có thể tạo nhiều phương án cho báo cáo này. Mỗi phương án có thể trình bày dữ liệu của báo cáo với dạng khác nhau. Người sử dụng lựa chọn một trong số những phương án hoàn chỉnh và lập báo cáo.

Người lập trình có thể mô tả những tùy chỉnh nào của báo cáo mà người sử dụng có thể dùng được (tùy chỉnh người sử dụng) và những tùy chỉnh nào trong đó sẽ được đưa vào trực tiếp trong biểu mẫu báo cáo (tùy chỉnh nhanh cho người sử dụng). Nhờ đó người sử dụng có thể tùy chỉnh phương án báo cáo “của chính mình” và lưu lại để sử dụng sau này.

Có thể tạo, thay đổi phương án báo cáo và tùy chỉnh phương án báo cáo trong Bộ thiết kế cũng như trong chế độ “1C:DOANH NGHIỆP”. Thực tế cho thấy rằng, tất cả người sử dụng đều làm việc với phương án báo cáo này hay phương án báo cáo khác, còn tùy chỉnh các phương án báo cáo là tùy chỉnh riêng đối với mỗi người sử dụng. Trong thời gian đó, người lập trình có thể thực hiện cả các công việc khác: phương án và tùy chỉnh chung cho toàn bộ người sử dụng, phương án riêng và tùy chỉnh cho nhóm người sử dụng riêng, phương án và tùy chỉnh cho cá nhân.

Cơ chế hiển thị chỉ số hiệu suất cho phép người lập trình có thời gian thực tế, trực tiếp trong quá trình làm việc của giải pháp ứng dụng, đánh giá số lượng và thời gian gọi Server, cũng như khối lượng dữ liệu nhận và gửi.

Chế độ mô phỏng trễ khi gọi Server cho phép người lập trình xem xét tốc độ làm việc thực tế của giải pháp ứng dụng tại Client trên kênh truyền thực tế. Đồng thời không cần bất kỳ sự kết nối đặc biệt nào đến mạng Internet. Chế độ này thực sự kích hoạt, và nền tảng (thậm chí cả trong phương án tệp trong máy tính cục bộ) sẽ bắt đầu làm việc chậm mà kênh truyền thực tế đang làm việc.

Trong chế độ ứng dụng được điều khiển, có thể thiết kế giao diện mới để công việc của người sử dụng trở nên thoải mái và hiệu quả hơn. Điều này phù hợp với xu hướng hiện đại và đồng thời có tính đến những điểm mạnh của giao diện trước đó.

Công việc với chương trình bắt đầu từ bàn làm việc và thanh lệnh các phần hành nằm trong cửa sổ chính của ứng dụng. Bàn làm việc thường có các chứng từ, báo cáo và danh mục được sử dụng… Đây là “trợ lý” đặc biệt của người sử dụng. Mỗi ngày làm việc đều bắt đầu từ việc “tiếp xúc” với “trợ lý” đó. Bàn làm việc định hướng công việc và trả lời cho những vấn đề của người sử dụng.

Thanh lệnh các phần hành có phân chia theo các chức năng của giải pháp ứng dụng

Khi kích hoạt một phần hành hay toàn bộ, các chức năng của phần hành này được hiển thị dưới dạng lệnh trong hai chức năng: thanh lệnh cố định (bên trái) và thanh lệnh thao tác (bên trên).

Có một loạt các cơ chế công cụ tạo sự thoải mái hơn cho người sử dụng:

  • Lịch sử làm việc của người sử dụng trong hệ thống để xem nhanh dữ liệu đã bị thay đổi sau cùng,
  • Danh sách các tham chiếu đã chọn bởi người sử dụng để chuyển nhanh đến chế độ và dữ liệu mà người sử dụng làm việc thường xuyên nhất,
  • Cơ chế thông báo gắn liền với các phần tử của biểu mẫu, để trực quan phân biệt các phần tử đó mà người sử dụng đã mắc lỗi khi thực hiện,
  • Và các cơ chế khác.

Cơ chế mới khi cài đặt và khởi động hệ thống cho phép làm đơn giản hóa đáng kể công việc quản trị trong các trường hợp khi nhiều phiên bản khác nhau của nền tảng cùng được sử dụng đồng thời. Nhờ đó có thể tự động cài đặt, chọn phiên bản phù hợp của nền tảng và ứng dụng Client phù hợp để khởi động, cũng như quá trình cập nhật nền tảng một cách kịp thời. Nhờ có các tệp cấu hình mà người quản trị có thể tùy chỉnh tập trung, một lần thành phần của các thành tố được thiết lập của nền tảng, cần thiết lập tự động hoặc thiết lập thủ công phiên bản mới của nền tảng cho người sử dụng, khởi động phiên bản đã định của nền tảng cho cơ sở thông tin này hay cơ sở thông tin khác, hoặc tự động xác định phiên bản cần thiết của nền tảng để khởi động…

Ngoài quy trình cài đặt và triển khai chuẩn do “1C:DOANH NGHIỆP 8” cung cấp, có thể sử dụng các tính năng của hệ điều hành: thiết lập nhóm chính sách sử dụng và cài đặt với Logon-script.

  • Tăng tốc độ làm việc với cơ sở dữ liệu.
  • Tăng nhanh việc thực hiện các truy vấn với cơ sở dữ liệu.
  • Sử dụng tốt hơn bộ nhớ và tài nguyên tính toán của máy tính.
  • Giảm thời gian mở cấu hình lần đầu.
  • Các thay đổi khác.
  • Từng bước chuyển giao giải pháp ứng dụng hiện tại sang chế độ ứng dụng được điều khiển.
  • Truy cập đến các mục tin chuẩn của đối tượng cấu hình.
  • Khả năng phân quyền truy cập vào các mục tin của đối tượng cấu hình.
  • Các cơ chế điền và kiểm soát khi điền dữ liệu cho đối tượng mới.
  • Phương pháp mới để kết chuyển chứng từ.
  • Khả năng làm việc trong những khung giờ khác nhau.
  • An toàn và đặc quyền trong chế độ thực hiện mã trong ngôn ngữ hệ thống.
  • Công nghệ mới cho các cấu phần ngoài.
  • Và các tính năng khác.

Bộ cài đặt 1C:DOANG NGHIỆP 8.2 bao gồm một cấu hình minh họa Ứng dụng được điểu khiển. Cấu hình này không phải là giải pháp ứng dụng hoàn thiện, nó không được sử dụng để làm việc thực tế. Toàn bộ các tính năng của cấu hình này, xét từ quan điểm ứng dụng, thể hiện dưới dạng giản đơn và chỉ được dùng để minh họa một số các tính năng của “Ứng dụng được điều khiển”:

  • Tạo giao diện lệnh,
  • Làm việc với các phần tử của biểu mẫu điều khiển và các lệnh của biểu mẫu,
  • Sử dụng danh sách động,
  • Sử dụng các thuộc tính giao diện của Metadata,
  • Mô tả các mục tin chuẩn trong Metadata,
  • Làm việc với các báo cáo,
  • Sử dụng tổng kết trung gian,
  • Tạo các lệnh cho đối tượng Metadata,
  • Sử dụng cơ chế kiểm tra khi điền,
  • Điền các mục tin bằng cơ sở dữ liệu ban đầu,
  • Đưa ra thông báo và hiển thị trạng thái,
  • Sử dụng các lệnh tham số,
  • Chọn và nhập nhanh theo dòng,
  • Phương pháp chọn,
  • Thay đổi mô tả biểu mẫu,
  • Sử dụng tùy chọn chức năng,
  • Làm việc với các tệp và hình vẽ,
  • Phân quyền truy cập,
  • Tạo bàn làm việc,
  • Sử dụng kho chứa tùy chỉnh người sử dụng trong cấu hình,
  • Phương pháp mới khi kết chuyển chứng từ,
  • Phương pháp làm việc với các cấu phần ngoài.

TS.Trần Thắng